Trang chủ / Câu chuyện Nhật Bản / Quan niệm về cái đẹp của người Nhật Bản

Quan niệm về cái đẹp của người Nhật Bản

Quan niệm về cái đẹp của người Nhật Bản

Từ xa xưa, cái đẹp là một phạm trù giá trị được người Nhật nhắc đến trong huyền thoại nữ thần Mặt trời Amaterasu (Kojiki – Cổ sự kí). Huyền tích ấy một mặt giải thích nguồn gốc của sự sống, mặt khác, nhấn mạnh hơi ấm của lòng nhân ái và cái thiện. Amaterasu còn được xem là vị thần thủy tổ của dòng dõi Thiên Hoàng. Nhìn trên một giao diện rộng, có thể khẳng định rằng, qua mỗi thời đại, người Nhật luôn bổ sung, tô điểm cho quan niệm về cái đẹp thêm đầy đặn, sâu sắc và tươi mới. Nhưng suy cho cùng, cái gốc của nó bao gồm bốn nguyên lí thẩm mĩ như sau: 1/ Wabi – cái đẹp giản dị đời thường; 2/ Sabi – cái đẹp mang dấu ấn thời gian; 3/ Aware – cái đẹp u buồn; và 4/ Yugen – cái đẹp u huyền.

Ngày nay, người Nhật phát triển quan niệm về cái đẹp lên một bước, gắn cái đẹp với nguyên tắc thực hành, bao gồm chín phạm trù thẩm mĩ như sau: 1/ Wabi sabi, tức là, cái đẹp không hoàn hảo, bởi chính sự không hoàn hảo khiến con người phải phấn đấu nhiều hơn nữa vì một xã hội phát triển phồn vinh; 2/ Miyabi, thường được hiểu là sự thanh lịch, nhằm loại bỏ những điều thô tục, xấu xa, góp phần xây dựng các chuẩn mực văn hóa ứng xử thân thiện, tốt lành giữa người với người; 3/ Shibui, nghĩa là sự giản đơn tinh tế, không cốt phô trương màu mè, mà cốt về giá trị đích thực làm nên phẩm giá con người; 4/ Iki, được hiểu là sự độc đáo, nhưng cái độc đáo ấy phải gắn liền với sự tinh tế, và nhất thiết phải có phong cách thanh lịch; 5/ Jo ha kyu, nghĩa là, bắt đầu từ từ, tăng nhanh và kết thúc bất ngờ, nói cách khác, đây là qui trình nhận thức, nắm bắt kỹ lưỡng, cẩn thận bản chất của thế giới khách quan và tự tin thực thi ý tưởng có hiệu quả; 6/ Yugen, nghĩa là tạo ra sự bí ẩn, chiều sâu, sự hấp dẫn đối với người khác; 7/ Geido, còn gọi là đạo đức và kỉ luật, hay những qui tắc nghiêm ngặt giúp con người rèn luyện đức tính bình tĩnh, điềm đạm, chủ động ứng xử với mọi biển đổi; 8/ Ensou, tức là, khoảng không bình lặng, chốn thanh tịnh giúp cân bằng yên ổn về mặt tâm hồn, là cái lặng im cần thiết giúp con người tìm kiếm một nguồn năng lượng mới, tái sinh bền bỉ, dẻo dai hơn; 9/ Kawaii, hay còn gọi là dễ thương, là câu nói cửa miệng của người Nhật. Về nghĩa gốc, nó biểu trưng cho lòng che chở, bao dung, là tình thương đối với những con vật nhỏ bé, những em bé ngộ nghĩnh. Về nghĩa phái sinh, nó gắn liền với phong cách thời trang trẻ như kiểu tóc, cách trang điểm đẹp đẽ được thanh niên Nhật ưa chuộng vào những thập kỷ 70 của thế kỷ XX. Mặc dù, còn nhiều ý kiến trái ngược nhau, song về cơ bản, phạm trù này đã được xã hội Nhật Bản chấp nhận, bởi tính chất của nó phù hợp với bối cảnh giao lưu, hội nhập văn hóa truyền thống và hiện đại.

Nhìn quan niệm về cái đẹp của người Nhật ở bề sâu, phần lớn giới nghiên cứu đều khẳng định rằng, quan niệm trên chịu sự chi phối sâu sắc của hai yếu tố Thần đạo (Shinto) và Thiền tông. Mặt khác, vì nằm trong sinh quyển văn hóa phương Đông, nên quan niệm về cái đẹp phần nào chịu chi phối của tư tưởng Nho giáo. Tuy nhiên, tính chất của hệ tư tưởng Nho giáo thiên về nội dung giáo hóa, cương thường, khuyến tiết khuyên trung, nên sự ảnh hưởng của nó cũng chỉ nằm trong một phạm vi hẹp. Cần khẳng định ngay rằng, Nho giáo có vai trò không nhỏ trong việc phát triển kinh tế, tạo ra sự ổn định về mặt xã hội. Theo trật tự trên – dưới thuận hòa, Nho giáo đề cao đạo đức Trung – Hiếu – Nhân – Nghĩa, cách xử sự “chính danh”, đúng phận vị của mỗi người. Vì thế, khi bắt gặp ánh sáng của khoa học – kỹ thuật hiện đại phương Tây, người Nhật đã mạnh dạn canh tân đất nước, tạo ra những thành tựu huy hoàng trong lịch sử. Nếu Nho giáo Trung Quốc nhấn mạnh phạm trù chữ Nhân, thì khi du nhập vào Nhật Bản, Nho giáo Nhật lại thiên về chữ Trung. Đây là nguyên nhân góp phần hình thành nhân sinh quan, lý tưởng “Trung thành với lãnh chúa” của tầng lớp Samurai (Võ sĩ đạo). Tầng lớp này vừa thấm nhuần chữ Trung, vừa ứng xử theo chữ Nghĩa, sẵn sàng dấn thân trả nợ cho ân nhân bằng bất cứ giá nào. Song, vì quá nhấn mạnh vào lý tưởng của chữ Trung, nên cả một thời gian dài, nội dung này đã bị nhà cầm quyền đẩy lên tầm cực đoan. Tất nhiên, hạt nhân hợp lí của nó là tinh thần xả thân, dám hy sinh, coi thường cái chết. Trên các chặng đường phát triển, Thần đạo, Phật giáo, Nho giáo luôn bổ sung cho nhau, góp phần làm nên bản sắc văn hóa truyền thống Nhật Bản.

Trong các phạm trù tư tưởng thẩm mĩ, Thần đạo (được xem như một tín ngưỡng bản địa) và Thiền tông là hai yếu tố cơ bản chi phối đáng kể tới khiếu thẩm mĩ của người Nhật Bản. Tinh thần của Thần đạo nằm ở niềm tin “vạn vật hữu linh” (vạn vật có linh hồn), tức là, nhân cách hóa các hiện tượng thiên nhiên đất trời, trăng sao, cây cỏ hoa lá, chim chóc muông thú… như những vị thần. Sau nữa là trân trọng, đề cao thiên nhiên. Bảo vệ Thần đạo chính là giữ gìn sự sống của mỗi người. Quả vậy, ở một quốc gia chịu nhiều thiên tai nhất thế giới, với bảy vùng núi lửa, hàng nghìn cơn địa chấn, ngoài ra, còn có những trận động đất sóng thần để lại bao hậu quả nặng nề, chúng ta sẽ dễ hiểu vì sao Thần đạo lại có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của người dân Nhật Bản. Ở một vùng đất mà khí hậu vô cùng khắc nghiệt, dữ dội và đỏng đảnh. Mùa đông, gió bắc thổi về từ vùng Siberia (Nga) khiến cả miền Bắc băng giá; mùa hè, gió đông nam thổi mạnh từ Thái Bình Dương vào gây ra nạn lũ lụt, thậm chí có những trận mưa kéo dài đến 40 ngày đêm. Vì thế, người Nhật luôn có ý thức gìn giữ, gắn bó mật thiết với thiên nhiên, thờ cúng, hành hương về với cõi thiêng, về với thế giới thần linh nhằm tìm sự cảm thông, che chở. Tiếp nữa là tìm sự hòa hơp, sẻ chia giữa các thành viên trong cộng đồng, nhằm giải tỏa bớt những tai ương trong cõi sống.

Dù không tuyên bố rõ ràng, nhưng trong tiến trình lịch sử, Thiền tông đã được người Nhật xem là quốc giáo. Là một chi nhánh nhỏ của Phật giáo, Thiền tông chỉ ra cho chúng sinh nguyên nhân của nỗi khổ, nhận ra con đường xuất thế diệt dục, tu hành đắc đạo, cứu giúp muôn dân và giúp cả muôn loài. Bên cạnh căn rễ tư tưởng nói chung của Phật giáo nguyên thủy vừa nêu, Thiền tông vẫn có những đặc trưng riêng. Thiền tông nhấn mạnh vào nghi lễ ngồi thiền, giác ngộ tâm tính, “là cách trải nghiệm của con người để thấu hiểu được sự nhẫn nại của thời gian” [1, 50]. Nói cách khác, đây là cách loại bỏ những thói quen rườm rà, những cảm xúc tiêu cực gây nhiễu loạn trong tâm hồn, hình thành nên một trí tuệ vừa thanh thản yên bình, vừa phẳng lặng siêu việt, sáng suốt. Do tính chất đơn giản, hữu ích và khoan dung của nó, nên Thiền tông được nhiều người Nhật Bản tin tưởng, làm theo.

Suy cho cùng, quan niệm về cái đẹp của người Nhật được chắt lọc, xây dựng trên nền tảng tư tưởng nhân văn của dân tộc và nhân loại, được nhiều thế hệ tiếp nhận trên tinh thần dân chủ. Nói như nhà nghiên cứu Nhật Chiêu “Cái đẹp là tiêu thức, là chuẩn tắc trong cuộc sống của người Nhật từ bao đời (…) tuy không có tên gọi chính thức nhưng lại thấm sâu vào tâm tưởng, dòng máu người Nhật hơn bất kì tôn giáo nào khác” [2, 9]. Một trong những minh chứng cho nét văn hóa ứng xử với cái đẹp của người Nhật, một lắng đọng, kết tinh mà chúng tôi muốn lí giải dưới đây là biểu tượng hoa anh đào (Cherry blossom hoặc Sakura).

anh dao

2. Hoa anh đào như một ứng xử với cái Đẹp của người Nhật Bản

Không phải vô cớ mà người ta mệnh danh cho Nhật Bản là “Xứ sở hoa anh đào”. Để trở thành một biểu tượng, dĩ nhiên hoa anh đào phải gắn liền với ý niệm về con người và thế giới. Trước hết, trong dân gian, hoa anh đào không chỉ gắn liền với những bài dân ca Nhật, mà còn găn với câu chuyện cổ bi thương về tình yêu và khát vọng của Samurai, là sự thức tỉnh, hóa thân vào núi Phú Sĩ để bất tử vĩnh hằng. Bởi chỉ khi con người thần linh hóa và nâng cái bi lên tầm mĩ hóa, chắc chắn, chuyện về Samurai còn là bài học về lòng dũng cảm, thái độ bình thản coi thường cái chết khi biết “hổ thẹn”, ý thức sâu sắc về danh dự, bổn phận và tồn tại. Đặc biệt là không cam chịu trước những điều ô nhục. Điều này còn minh chứng cho cái đẹp về ý thức kỷ luật quyết liệt, tinh thần tôi luyện, vượt lên hoàn cảnh.

Trong thư tịch cũ, hoa anh đào kết tinh trong kiệt tác Manyoshu (Diệp vạn tập), còn gọi là mười nghìn chiếc lá. Đây là tập hợp sáng tác kéo dài suốt ba thế kỉ (từ thế kỉ VI đến thế kỷ thứ VIII). Thành phần sáng tác rất đa dạng, ngoài những người xuất thân trong dòng dõi Thiên Hoàng, quí tộc, còn có cả binh lính, nông dân, kẻ ăn mày… Ở đó, người ta ngợi ca cái đẹp của thiên nhiên, cái đẹp của tình yêu nam nữ, của dân chủ bình đẳng và niềm cảm thương, tiếc nhớ đối với người đã khuất.

Trong tự nhiên, hoa anh đào là biểu trưng cho khoảnh khắc mong manh, bởi xét về thời gian, trung bình mỗi bông hoa chỉ có vòng đời nở – tàn 7 ngày ngắn ngủi, một vài chủng loại khác có tuổi thọ dài hơn, nhưng cũng chỉ kéo dài từ 10 đến 12 ngày. Hoa anh đào nở lúc xuân về, lúc con người nghỉ ngơi, dạo chơi, thư thái tâm hồn sau chuỗi ngày làm việc vất vả. Hơn nữa, đây cũng là khoảnh khắc cho con người tạm xếp lại cách sống khép kín, giá lạnh của mùa đông, mở lòng hòa mình đón nhận cái tinh khiết, ấm áp chan hòa của hương sắc mùa xuân. Mùa hoa anh đào Nhật Bản kéo dài từ tháng 2 đến tháng 4, thậm chí còn dài sang cả tháng 5. Về không gian hoa nở, bắt đầu từ thành phố Okinawa miền Nam, kéo dài trên vĩ tuyến, đi qua gần 20 tỉnh thành phố và kết thúc ở Hokkaido miền Bắc.

Trong niềm tin của người Nhật, hoa anh đào nở rộ mang lại sự may mắn tốt lành. Nói cách khác, đây là hình ảnh của sự thịnh vượng, điềm lành báo sẽ được mùa và biểu trưng cho sự trường thọ. Vì thế, người Nhật gọi đây là mùa Hanami (dã ngoại dưới gốc anh đào), mùa thưởng hoa, ngắm hoa. Phong tục ngắm hoa anh đào có từ thời Heian, bắt đầu từ thế kỉ thứ IX, phát triển hoàn hảo ở thế kỉ thứ X và tiếp nối, bảo tồn cho đến tận ngày nay. Do gắn bó mật thiết với loài hoa ấy gần mười thế kỉ, nên người Nhật có thể dự tính tương đối chính xác các mốc thời gian ngày hoa bắt đầu nở, giờ ngắm hoa đẹp nhất trên đất nước Nhật Bản. Đến với ngày hội hoa anh đào, người Nhật nhận ra ý nghĩa của cuộc sống tự do, đồng thời, bước vào một chu trình nghệ thuật như ca hát, vui chơi…, vì thế, nó hoàn toàn khác biệt với cuộc sống công nghiệp hối hả, nhiều sức ép ngày thường. Người ta còn được thưởng thức một không gian thoáng đãng, chạm vào niềm tin Thần đạo thiêng liêng, tức là, truyền thống thờ phụng thiên nhiên. Dĩ nhiên, mỗi mùa anh đào nở là một lần cho thần linh có dịp đi về. Mặt khác, người ta có thể giao tiếp với linh hồn người đã khuất, cầu cho mọi sự suôn sẻ, an lành. Hoa anh đào nở rộ và héo rụng trong gió như “cơn mưa hoa” sắc trắng, sắc hồng đầy kiêu hãnh, nhưng cũng không kém phần bi tráng. Đời hoa nhắc nhở về sự hữu hạn của cái đẹp và cái thoáng chốc của đời người. Có thể, còn nhiều lí giải khác nhau, nhưng chắc chắn rằng, mỗi lần trải nghiệm trong mùa hoa anh đào, con người vừa được sống hân hoan hạnh phúc khác lạ, vừa “sống khắc khoải giữa hai bờ thực – ảo”. Dù chưa phải là “lột xác”, nhưng quan trọng hơn, người ta nhận ra một góc nhìn mới, một cách đánh giá mới về bản thân. Quả vậy, chiêm ngắm mùa anh đào nở, nhà nghiên cứu văn hóa Hữu Ngọc viết: “Màu hoa hồng nhạt tách riêng từng cây cũng đã đẹp, nhưng khi một lùm cây nở rộ bên bờ sông, bờ ao, trên đê hay bãi cỏ thì thật vui mắt ấm lòng” [4, 25]

Trong lịch sử xây dựng đất nước, hoa anh đào được người Nhật tôn vinh làm quốc hoa, quốc hồn dân tộc. Người ta in nổi hình hoa anh đào lên đồng 100 Yên Nhật nhằm trao truyền những giá trị văn hóa truyền thống cho thế hệ mai sau. Lễ tân ngoại giao Nhật Bản tiếp đãi khách nước ngoài trong vườn hoa anh đào sang trọng, cổ kính. Khi chính khách Nhật tặng hoa anh đào cho quốc gia nào đó, loài hoa ấy trở thành sứ giả của hòa bình.

Thêm nữa, hoa anh đào còn là đề tài cho các loại hình nghệ thuật khác như: hội họa điêu khắc, ẩm thực, âm nhạc và văn học. Trong tranh khắc gỗ dân gian Nhật Bản, hình ảnh chùm hoa anh đào nhỏ xinh xuất hiện nhiều trên trang phục kỹ nữ, cộng hưởng bàng bạc với những gam màu cảnh sắc thiên nhiên. Giá trị của tranh khắc gỗ không nằm ở nghệ thuật cao siêu, mà nghiêng hẳn về phía bình dị, hạnh phúc đời thường. Cũng vậy, biểu tượng hoa anh đào còn như một kết tinh của triết lí nghệ thuật ẩm thực Nhật Bản. Người ta không chỉ sáng tạo, bài trí, thưởng thức trà rượu anh đào; cơm, bánh, dưa muối, mì lạnh; bánh kẹo và kem anh đào khéo léo, mà ở đó, người Nhật còn muốn “giữ gìn cái hương vị tuyệt vời của mùa xuân” [3, 23]. Quan trọng hơn nữa là nhân lên những niềm tin may mắn, đầy đủ trong lòng người.

Về phương diện âm nhạc, Sakura – Sakura là bài dân ca vừa quen thuộc vừa thân thương, bởi nó là bài học đầu tiên bồi đắp, nuôi dưỡng tâm hồn thơ trẻ trong nhà trường. Về phương diện văn học, hoa anh đào trở thành niềm cảm hứng bất tận cho nhiều thế hệ nghệ sĩ. Người ta nhận ra ý nghĩa biểu trưng của hoa anh đào qua cái đẹp chuyển hóa theo mùa, cái đẹp của cõi vô thường, mong manh nhất thời biến đổi giữa vũ trụ mênh mông, vĩnh hằng. Chẳng hạn, Matsuo Basho nâng niu nét tình tứ của tâm hồn qua thính giác, khứu giác, thị giác mà nhận ra cái thanh thoát, nhẹ nhàng, đẫm màu sắc Thiền “Tiếng chuông chùa tan lắng/ hương anh đào còn ngân/ xâm xẩm tối”. Kawabata Yasunari – nhà văn đạt giải Nobel làm hồi sinh quan niệm về cái đẹp “ngọt ngào nữ tính”. Ông dành hẳn Chương VI cuốn tiểu thuyết Tiếng rền của núi viết về “Hoa anh đào mùa đông”, về ước mơ vượt thoát, quên mình giữa bao nghịch cảnh trái ngang, góp phần thanh lọc tâm hồn. Có lẽ, chừng nào con người còn tha thiết với cái đẹp, còn xem cái đẹp huyền bí phương Đông như một giá trị cứu rỗi, chừng ấy, con người sẽ biết ứng xử mềm dẻo, nhân ái và bao dung hơn.

Theo: TS. LƯƠNG MINH CHUNG

Khoa Đông phương học, Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu

Đọc thêm

Nếu bạn cho rằng sushi có nguồn gốc từ Nhật Bản, bạn đã sai!

Những điều chưa biết về Sushi – món ăn nổi tiếng nhất và cũng bí …

Leave a Reply