Trang chủ / Câu chuyện Nhật Bản / Sách đọc về Nhật Bản: Giải phẫu sự phụ thuộc

Sách đọc về Nhật Bản: Giải phẫu sự phụ thuộc

Tên sách: Giải phẫu sự phụ thuộc

Tác giả: Takeo Doi

Dịch giả: Hoàng Hưng.

Việc mở cửa phổ biến các tác phẩm tinh hoa kinh điển thế giới vào Việt Nam sẽ giúp bạn đọc hai điều: trước hết là học lấy những nội dung cần thiết cho việc xây dựng đất nước, bên cạnh đó, có vị trí quan trọng hơn nhiều là rút ra những bài học về phương pháp nghiên cứu khoa học.

Nước Nhật Bản bắt đầu công cuộc Duy Tân “mở cửa” ra phương Tây từ năm 1868 dưới thời hoàng đế Meiji, ban đầu tập trung vào việc “học” những tri thức tường minh thuộc kỹ thuật và công nghệ, và từ những năm 1920 – 1930 thì bắt đầu chuyển sang những lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn “xa vời” hơn, mù mờ hơn, trong đó có Phân tâm học và những ứng dụng vào Tâm lý học chữa bệnh.

Có ba cây đại thụ trong Phân tâm học của Nhật Bản là Kosawa Heisaku với chủ đề về phức cảm Ajase (biến thái của phức cảm Oedipe mang nhiều mầu sắc Phật giáo), Kitayama Osamu về sự cấm đoán “Không được nhìn”, và Doi Takeo về những ý tưởng xoay quanh cái amae. Phong cách nghiên cứu của cả ba tác giả này luôn luôn mang tinh thần vận dụng học thuyết Freud vào hoàn cảnh Nhật Bản, chứ không “học” nước ngoài một cách giáo điều. Nhân dịp xuất bản tại Việt Nam hai công trình của Doi Takeo, cũng nên rút ra từ đó những bài học cho giới nghiên cứu Việt Nam.

Tư tưởng chỉ đạo công trình Giải phẫu sự phụ thuộc là sự đi tìm “tư duy của người Nhật Bản” và đem “so sánh nó với tư duy phương Tây vì thấy nó không có tính logic mà mang tính trực giác… (trang 97); định hướng đó chi phối động cơ nghiên cứu của tác giả một cách rất rõ ràng.

Sau hàng chục năm hành nghề trị bệnh tâm lý, tác giả ngẫm nghĩ và phát hiện cái amae và khái niệm amae này trở thành trung tâm trong công trình Giải phẫu sự phụ thuộc. Nói một cách thô thiển, amae là trạng thái tâm lý phụ thuộc dẫn tới những hệ quả cả về tình cảm cũng như về ứng xử, một đặc trưng điển hình Nhật Bản. Khác với sự thể hiện trong cái được phương Tây gọi bằng “self” và cái “ego” với nhiều yếu tố độc lập, tự do, logic, chủ động, với người Nhật Bản trạng thái gửi trong khái niệm amae mang nhiều yếu tố nội tâm, phụ thuộc.

Tương tự như vậy, nếu như với phương Tây, các khái niệm “signifiant” và “signifié” (cái biểu đạt và cái được biểu đạt) hiện ra khá rành mạch trên bề mặt, trung lập, dễ phân tích, thì trong tâm lý người Nhật Bản, cái giri và cái ninjiô tồn tại trong một quan hệ hữu cơ với nhau, lẩn kín vào với nhau, như cái bình và chất chứa bên trong bình.

Phương pháp nghiên cứu của Takeo Doi không chỉ là chuyện ngôn ngữ, mà là sự thể hiện của tâm lý dân tộc trong lớp ngôn ngữ tồn tại và phát triển lâu đời với dân tộc.

Cách nghiên cứu của Takeo Doi cũng lý giải được vì sao người Nhật Bản lao vào hiện đại hóa đất nước song vẫn duy trì được một nền văn hóa truyền thống; vì sao một dân tộc dân chủ hóa cao độ lại vẫn chấp nhận thiết chế phong kiến mà điển hình là vẫn duy trì được lòng tôn trọng nhà vua; vì sao một dân tộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đến chân tơ kẽ tóc song lại không triệt để đòi hỏi tự do đến mức quá trớn; vì sao trong ứng xử, người Nhật Bản có vẻ như khó nói lời xin lỗi, song lại hối lỗi sâu sắc hơn người phương Tây… “So sánh với tư duy phương Tây thì nó không có tính logic mà mang tính trực giác. Tôi tin rằng điều này không thể không liên quan đến sự ngự trị của tâm lý amae ở Nhật Bản…” (trang 97).

Với những chuyên gia phương Tây đã biết đến công trình của Ts. Takeo Doi, bất kỳ lới nói đầu nào cuả một kẻ ngoại đạo đều không cần thiết, nếu không nói là xấc xược. Tuy nhiên, với những người ngoại đạo khác, đặc biệt những ai chưa từng sống ở Nhật Bản, đôi lời giải thích mở đầu để khái niệm trung tâm amae có thể hữu ích.

Người ta có thể tiếp tục tìm ra ảnh hưởng gần như vô hạn của quan điểm amae, nhận biết ý nghĩa của amae là có được chìa khoá để đạt được sự hiểu biết mới về tổng thể xã hội, văn hoá, nghệ thuật Nhật Bản. Quan trọng nhất là trong khi những người khác thành công trong việc miêu tả các mẫu hình đặc trưng của xã hội Nhật Bản, thì Ts. Doi thành công trong việc giải thích chúng – một khi người ta có thể cảm nhận amae có nghĩa gì. Chỉ có một não tặng bắt nguồn từ amae là có thể sản sinh ra một dân tộc vừa hết sức phi thực tế lại vừa hết sức sáng suốt về điều kiện cơ bản của con người hết sức từ bi lại hết sức tự kỷ trung tâm; hết sức tinh thần lại hết sức vật chất; hết sức nhẫn nại lại hết sức ngang ngạnh; hết sức dễ bảo lại hết sức mãnh liệt – nói gọn, một dân tộc từ quan điểm sống của nó là bình thường và nhân bản một cách vượt trội về mọi phương diện.

Chỉ riêng điều ấy đã khiến Giải phẫu sự phụ thuộc là một cuốn sách quan trọng. Nhưng giải thích tiếng Nhật chỉ là một nửa mục tiêu của tác giả. Đúng là vì amae trong tiếng Nhật tất nhiên được pha với những đặc tính khác bị liên kết với phương Tây một cách hời hợt như tự do, tính thụ động, v.v… nên amae cũng là một phần thiết yếu của nhân tính của người phương Tây. Đúng là vì giá trị gắn với amae được coi là nguyên nhân của cả các đức tính cũng như các thất bại của xã hội Nhật Bản, nên sự dồn nén hay làm trệch nó theo những kênh khác nhau giải thích được nhiều cái đáng hâm mộ và đáng ghét nhất trong truyền thống phương Tây. Như Ts. Doi từng thấy, nhu cầu căn bản của con người tổng kết trong một từ tiếng Nhật là amae, đã bị các nhà tâm lý học và tâm thần học phương Tây sao nhãng một cách kỳ lạ. Sự sao nhãng ấy đã được bù đắp phần nào bởi cuốn sách trước của Ts. Doi, và cuốn Giải phẫu sự phụ thuộc sẽ đưa công việc tốt đẹp này đi xa hơn. Nhưng bất kỳ một người đọc bình thường nào có đầu óc cởi mở cũng sẽ thấy nó quyến rũ bởi ánh sáng mà nó rọi vào không chỉ xã hội Nhật Bản mà cả xã hội của chính mình nữa. Bất kỳ ở đâu con người xây nên một xã hội, người ta buộc phải một lần nữa chú trọng đến những hằng tố làm nên bản chất động vật của chính mình, và hoà giải chúng với cái tổng thể. Giải phẫu sự phụ thuộc cho thấy một dân tộc độc đáo và tương đối biệt lập khởi sự làm nhiệm vụ ấy như thế nào.

– “Nhạy cảm, độc đáo, và thấm thía” – Bs. Robert J. Lifton Đại học Yale

– “Một đóng góp quan trọng vào khoa học về ứng xử của con người nói chung và tâm lý liệu pháp nói riêng” – Willam P. Lebra Đại học Hawaii

– “Một cái nhìn thấu suốt lạ lùng vào tính cách Nhật” – Thượng nghị sĩ S. I. Hayakawa

– “Có lẽ đây là cuốn sách đầu tiên được viết bởi một người Nhật được đào tạo về tâm thần học có tác động tới tư duy tâm thần học phương Tây” – Ezra Vogel Đại học Harvard

– “Takeo Doi – tác giả không thể bỏ qua khi tìm hiểu tâm lý con người và văn hoá, sự khác biệt giữa phương Đông và phương Tây, giữa người Mỹ và người Nhật” – Edward Hall (Học giả Nhân chủng học)

Đọc thêm

Cách “Dạy con không tốn nước mắt” của người Nhật

“Hãy nhìn vào điểm mạnh của con và giúp con phát triển thế mạnh đó. …

Leave a Reply