Trang chủ / Câu chuyện Nhật Bản / Phong trào Đông Du: trăm năm nhìn lại

Phong trào Đông Du: trăm năm nhìn lại

Năm 1905, Phan Bội Châu sang Nhật khởi xướng phong trào Đông Du để đáp ứng yêu cầu canh tân đất nước.

Ngày này 100 năm trước, Phan Bội Châu đến Nhật, khởi đầu cuộc chuyển hướng quan trọng trong phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam. Suốt đời, Phan Bội Châu kiên trì theo đuổi chủ trương đánh Pháp bằng bạo động vũ trang, tiếp nối truyền thống Văn Thân – Cần Vương. Năm 1905, Nhật vừa thắng Nga và nổi lên như một tấm gương lớn cho các nước đồng văn đồng chủng ở châu Á. Phan Bội Châu đến Nhật với ý định xin cứu viện quân sự. Nhưng khi tận mắt thấy một Nhật Bản hoàn toàn mới, cụ quyết định bổ sung chiến thuật, chuẩn bị lực lượng và lập tức quay về nước bàn với Tiểu La Nguyễn Thành và các chiến hữu tuyển chọn thanh niên ưu tú đưa sang Nhật học tập, làm dấy lên phong trào Đông du.

Từ Đông du đến Tây du

Mục tiêu của phong trào thì đã rõ: chuẩn bị lực lượng đánh Pháp giành độc lập, đưa Kỳ ngoại hầu Cường Để về nước lập chế độ quân chủ lập hiến. Theo ông Hattori Norio, Đại sứ Nhật tại Việt Nam hiện nay, số lưu học sinh Việt Nam ở Nhật vào năm 1905 là ba người, năm 1907 là 100 người, năm 1908 đã hơn 200 người. Phong trào kéo dài được ba năm, đến cuối năm 1908 đầu 1909 thì chấm dứt khi Nhật trở mặt, trục xuất Phan Bội Châu và các học sinh Việt Nam. Thanh niên Đông du chưa ai học hành tới nơi tới chốn; song nhiều người đã về nước đánh Pháp như Lương Ngọc Quyến, Hoàng Trọng Mậu… Phan Bội Châu trở lại Nhật một lần nữa vào năm 1917 và thất vọng khi nhận ra rằng Nhật rắp tâm đứng vào hàng ngũ các nước đế quốc. Ý tưởng dựa vào Nhật để đánh Pháp của cụ Phan hoàn toàn tan vỡ. Những năm sau đó vẫn có một số thanh niên sang Nhật học tập như Lương Định Của, Đặng Văn Ngữ, Lê Văn Quý, Đỗ Vạn Lý… tuy không thuộc lứa Đông du song sau này về nước vẫn có nhiều đóng góp.

Xét về phương diện đào tạo lực lượng thì phong trào Đông du quả thật chưa đạt mục tiêu vì thời gian quá ngắn ngủi. Song, để hậu thuẫn cho sự nghiệp này, ở trong nước đã hình thành một phong trào vận động bí mật từ Nam chí Bắc, liên kết các sĩ phu yêu nước, mở các cơ sở kinh doanh nhằm tuyển chọn thanh niên ưu tú, sắp xếp cho họ xuất dương và tài trợ chi phí cho việc học tập. Có thể ví lực lượng du học sinh Đông du tại Nhật là phần nổi của núi băng trôi, còn phần chìm, uy thế hơn gấp nhiều lần, là phong trào trong nước dưới sự chỉ huy của Tiểu La Nguyễn Thành. Thực dân Pháp sớm nhận ra nguy cơ này nên một mặt câu kết với Nhật để trục xuất Phan Bội Châu, mặt khác thẳng tay đàn áp. Hầu hết các sĩ phu, trí thức, doanh nhân của phong trào Đông du đều bị bắt, bị giết hoặc bị đày đi Côn Đảo sau cuộc kháng thuế ở Trung kỳ năm 1908.

dong du
Trong vai một anh nấu bếp dưới tàu thủy, Phan Châu Trinh cũng đến Hồng Kông rồi Nhật Bản trong khoảng thời gian này (1906). Ngoài việc gặp Phan Bội Châu để trao đổi ý kiến về chủ trương chiến lược, Phan Châu Trinh còn muốn tận mắt xem cái tư tưởng dân quyền – mà cụ tiếp thu được qua “tân thư, tân văn” – đã được thực hiện như thế nào ở một nước phương Đông. Hai tháng ở Nhật, Phan Châu Trinh rút ra được một số kết luận, ví dụ như đối với đạo Khổng, “nước Nhật chỉ lấy cái phần đạo đức thuần túy, còn những chế độ chính trị thì bỏ hết, nhất là chế độ khoa cử đã di hại nước Tàu, nước Nam, và nước Cao Ly biết bao nhiêu mà kể”. Cụ cũng nhận ra được ưu điểm của chế độ “quân dân cộng trị” ở Nhật so với chế độ phong kiến chuyên chế cũ. Những kết luận đó giúp Phan Châu Trinh cụ thể hóa chủ trương “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” mà cụ đề xướng và theo đuổi.

Phan Châu Trinh từ Nhật về nước, phong trào Duy tân có sinh khí hẳn lên, từ Nam chí Bắc sôi nổi các hoạt động lập thương hội, nông hội, mở học hiệu, cắt tóc ngắn, học chữ Quốc ngữ… mà đỉnh cao là Đông kinh Nghĩa thục và cuộc dân biến ở Trung kỳ năm 1908. Các hoạt động này rất cụ thể, tiến hành công khai ngay trước mũi thực dân Pháp nhưng hàm chứa nội dung truyền bá dân quyền.

Phan Châu Trinh bị bắt đi tù ở Côn đảo, ra tù cụ đưa cả người con trai duy nhất là ông Phan Châu Dật sang Pháp, mở đầu cho hướng Tây du. Mặc dù quê hương của J. J. Rousseau đã không làm được gì nhiều cho cái mục tiêu mà Phan Châu Trinh theo đuổi là xóa bỏ chuyên chế, xây dựng dân quyền ở Việt Nam, song hướng Tây du tỏ ra có nhiều lợi ích. Lớp lớp thanh niên ưu tú đã đi theo con đường đó, sau này có nhiều đóng góp lớn cho dân tộc, mà nổi bật nhất là Nguyễn Tất Thành.

Trăm năm nhìn lại

Một trăm năm sau nhìn lại, phong trào Đông du vẫn còn nhiều vấn đề đáng suy gẫm. Với phong trào Đông du, lần đầu tiên nhiệm vụ cứu nước được chuyển giao từ thế hệ sĩ phu nho học sang lớp thanh niên được đào tạo theo tinh thần mới. Đây là chuyển biến rất căn bản, có tác động rất lâu dài về sau, góp phần sản sinh ra nhiều lớp trẻ đầy nhiệt huyết, sẵn sàng hy sinh như Nguyễn Thái Học, Phạm Hồng Thái và những người sáng lập Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Với phong trào này, lần đầu tiên thanh niên Việt Nam có dịp ra nước ngoài du học, giao lưu với thế giới rộng lớn chứ không chỉ quanh quẩn trong làng, trong nước với những giáo điều Khổng, Mạnh cũ kỹ.

Tuy đường lối chung rất khác nhau nhưng cả Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh lại gặp nhau ở chỗ coi trọng sự nghiệp đào tạo lớp trẻ. Không chỉ gặp nhau mà dường như hai cụ còn có ý phân công nhau cùng gánh vác đại nghiệp này. “Xem dân trí Nhật Bản rồi đem dân trí ta ra so sánh, thật không khác gì muốn đem con gà con đọ với con chim cắt già. Giờ Bác (Phan Bội Châu) ở đây, nên chuyên tâm ra sức vào việc văn, thức tỉnh đồng bào cho khỏi tai điếc, mắt đui, còn việc mở mang dìu dắt ở trong nước nhà thì tôi (Phan Châu Trinh) xin lãnh. Lưỡi tôi đang còn, người Pháp chẳng làm gì tôi được mà lo” (dẫn theo Phan Bội Châu – Ngục trung thư).

Có điều nước Nhật dưới mắt Phan Bội Châu khi ấy là một thế lực quân sự có thể cậy dựa được. Đặt nhiệm vụ giành độc lập lên trên hết, phần lớn thanh niên Đông du đều học chính trị và quân sự, tập trung ở trường Chấn Võ, chứ không ai học kinh tế và khoa học, vốn là những thứ làm cho Nhật bắt kịp phương Tây sau 35 năm đổi mới. Sau này, khi những yêu cầu của mình không được phía Nhật đáp ứng, Phan Bội Châu liền quay sang Trung Hoa Dân quốc, thậm chí còn cải tổ Việt Nam Quang phục hội thành Việt Nam Quốc dân đảng theo đường lối, chủ trương, tổ chức của Trung Hoa Quốc dân đảng của Tôn Dật Tiên.

Năm 1940, Phan Bội Châu qua đời ở Huế, chưa kịp nhìn thấy cái ngày mà lính Nhật vào Đông Dương hất cẳng Pháp, đưa Bảo Đại lên lập chính phủ “bù nhìn”, tuy chỉ vài tháng ngắn ngủi nhưng mức độ tàn ác không thua gì thực dân Pháp.

Phan Châu Trinh chủ trương xóa bỏ chuyên chế, xây dựng dân chủ trước, mặc cho cụ Phan Bội Châu có lời khuyên rằng “dân không còn nữa thì chủ vào đâu”, bởi vì cụ Phan Châu Trinh tin tưởng vững chắc “cái tệ quân chủ chuyên chế không trừ thì tuy phục quốc cũng chưa phải là hạnh phúc” và “dân đã biết có quyền thì việc khác có thể tính lần được” (dẫn theo Phan Bội Châu trong Tự phán). Để thực hiện nhiệm vụ này, Phan Châu Trinh chú trọng hoạt động trong nước chứ không dựa vào nước ngoài (bất vọng ngoại, vọng ngoại tất vong) và hoạt động công khai chứ không bạo động (bất bạo động, bạo động tất tử). Nếu phải ra nước ngoài thì Phan Châu Trinh đi Pháp – cái nôi của tư tưởng dân quyền – chứ không hướng tới nước Nhật.

Phan Châu Trinh mất năm 1926, chỉ vài tháng sau khi cụ từ Pháp về Sài Gòn. Độc lập dân tộc hãy còn xa, nhưng trào lưu dân quyền mà cụ khởi xướng đã bén rễ khi dân trí, dân khí đã có bước phát triển so với 20 năm trước, ngày hai cụ Phan gặp nhau trên đất Nhật. Bằng chứng là những phong trào đấu tranh của nhân dân đòi để tang Phan Châu Trinh, đòi ân xá cho Phan Bội Châu lan rộng khắp cả nước mà Nguyễn Ái Quốc nhận xét là lớn chưa từng thấy ở nước Nam… Sự thức tỉnh đó, tuy còn hạn chế trong xiềng xích của chế độ thuộc địa, có được là do nhiều nguyên nhân, trong đó đầu tiên phải kể đến những tác động của các phong trào Duy tân, Đông du, Tây du và của đồng bào ta ở các nước phương Tây.

Theo vysa

Đọc thêm

Nhật Bản đối đầu Trung Quốc: Sức mạnh quân sự vượt trội

(Quan hệ quốc tế) – Nhật Bản có đủ căn cứ sức mạnh trên cả …

Leave a Reply